Hội nghị Trung ương 7 sẽ thảo luận về cải cách tiền lương
Theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, cải \r\ncách tiền lương không chỉ là điều chỉnh tiền lương cơ bản, tiền lương \r\ntối thiểu mà còn rất nhiều vấn đề khác liên quan đến chính sách tiền \r\nlương, ở nhiều khu vực. Cụ thể như tiền lương của cán bộ công chức, viên\r\n chức (CBCCVC), lực lượng vũ trang, tiền lương của người lao động khu \r\nvực Nhà nước, khu vực sản xuất kinh doanh... Tương tự như vậy, chính \r\nsách bảo hiểm xã hội (BHXH) cũng liên quan mật thiết đến người lao động…
Tuy nhiên, mỗi lần Chính phủ trình Đề án\r\n cải cách tiền lương để Trung ương Đảng thảo luận thì vấn đề quan trọng \r\nlà nguồn để cải cách tiền lương. Qua thảo luận, Trung ương thấy rằng cải\r\n cách tiền lương không phải chỉ có việc tạo nguồn mà phải dựa vào cả sắp\r\n xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế…
Hội nghị Trung ương 6 khoá XII đã thông \r\nqua 2 nghị quyết quan trọng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ \r\nmáy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và \r\nnghị quyết về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao \r\nchất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công \r\nlập. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng đây là tiền đề quan trọng để \r\nHội nghị Trung ương lần thứ 7 thảo luận cặn kẽ và thông qua một nghị \r\nquyết về cải cách tiền lương.
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng khái \r\nquát lại quá trình hình thành chính sách tiền lương hiện nay, khi mà từ \r\nnăm 1956- 1957, nước ta đã hình thành chế độ tiền lương áp dụng cho các \r\nxí nghiệp, nhà máy, nông trường. Năm 1960, với sự trợ giúp của chuyên \r\ngia nước ngoài, Việt Nam đã thực hiện cải cách tiền lương áp dụng với \r\nngười làm việc trong khu vực Nhà nước, công nhân viên chức, sĩ quan. Hệ \r\nthống lương quy định cụ thể theo công việc, chức vụ, nhiệm vụ gắn với \r\ntrình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo. Tuy nhiên, thời kỳ này, \r\nngoài lương thì Nhà nước còn bao cấp mạnh theo tem phiếu, thậm chí cán \r\nbộ, công chức có nhà ở phân phối. Tổng số người hưởng lương Nhà nước \r\nthời điểm này khoảng 1 triệu người.
Năm 1985, Việt Nam cải cách tiền lương \r\nlần thứ 2 và tới năm năm 1993 là lần cải cách tiền lương lớn nhất từ \r\ntrước tới nay. Lần này, việc cải cách đã mở rộng quan hệ tiền lương cùng\r\n hệ thống thang, bảng lương.
Trưởng Ban Chỉ đạo cũng chỉ ra những bất\r\n cập của chính sách tiền lương hiện nay là chưa làm người lao động gắn \r\nbó với công việc, mức lương tối thiểu chưa bảo đảm mức sống tối thiểu. \r\nQuan hệ tiền lương mang tính bình quân, thấp hơn nhiều quan hệ tiền \r\nlương trên thị trường lao động. Hệ thống thang bảng lương phức tạp và \r\nlạc hậu, mở rộng đối tượng và các loại phụ cấp tạo bất cập cho các cơ \r\nquan, có rất nhiều các loại phụ cấp.
\r\n
\r\nCơ chế quản lý tiền lương và thu nhập còn nhiều bất cập (lương gồm cơ \r\nbản, thưởng, phụ cấp và khoản ngoài lương mà khoản ngoài lương lớn hơn \r\nlương). Tiền lương của lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) quá cao so \r\nvới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rồi sau này điều chỉnh\r\n lại thì có bất cập mới là tiền lương lãnh đạo DNNN bị đóng khung.
Nguyên nhân của thực trạng này là đối \r\ntượng hưởng lương tăng nhanh mà ngân sách không đáp ứng kịp (tính tới \r\nnay là hơn 8 triệu người hưởng lương từ ngân sách). Chậm cụ thể hoá quan\r\n điểm chi tiền lương là chi đầu tư phát triển để nâng cao chất lượng \r\ncông chức; chưa tạo đột phá về quản lý ngân sách; chưa quản lý tốt tiền \r\nlương. Chưa khắc phục bất cập quản lý DNNN, đơn vị sự nhiệp công.
Do đó, Phó Thủ tướng cho biết các đoàn \r\nkhảo sát của Ban Chỉ đạo sẽ tập trung làm rõ các vấn đề về tiền lương cơ\r\n sở, lương tối thiểu vùng, quan hệ tiền lương tối thiểu- lương tối đa, \r\ncác chế độ phụ cấp, cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập; tạo nguồn cải\r\n cách tiền lương.
Với hệ thống công đoàn có đặc thù riêng \r\ntrong vấn đề tiền lương, Phó Thủ tướng đề nghị cần làm rõ việc tính \r\ntoán, thiết kế thang- bảng lương, tìm nguồn chi trả, cách quản lý và \r\ncách trả lương cho cán bộ, viên chức. Với khu vực sản xuất, Tổng LĐLĐVN \r\nlàm rõ về tiền lương tối thiểu vùng.
\r\n
Lấy thu để chi cho lương
\r\nTiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ \r\ntướng, Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Bùi Văn Cường đã báo cáo khái quát tình hình\r\n thực hiện chính sách tiền lương trong hệ thống công đoàn và tình hình \r\nthực hiện chính sách tiền lương, BHXH và ưu đãi người có công.
\r\nTrong hệ thống của liên đoàn lao động \r\nthì cấp Trung ương là Tổng LĐLĐVN; 63 LĐLĐ tỉnh, thành phố trực thuộc \r\nTrung ương; 20 công đoàn ngành Trung ương và tương đương; cấp trên trực \r\ntiếp cơ sở có 1.157 đơn vị, gồm 710 LĐLĐ cấp huyện, quận, thị xã, thành \r\nphố thuộc tỉnh, 616 công đoàn giáo dục cấp huyện.
\r\n361 công đoàn ngành địa phương (hiện nay\r\n đang thực hiện giải thể các công đoàn giáo dục huyện và sắp xếp lại các\r\n công đoàn ngành địa phương có dưới 2.000 đoàn viên); 48 công đoàn các \r\nkhu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế của 46 LĐLĐ tỉnh, thành phố; \r\n25 công đoàn tổng công ty và 13 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc \r\nthù khác; cấp cơ sở gồm 126.000 Công đoàn cơ sở với trên 1,1 triệu cán \r\nbộ công đoàn không chuyên trách.
\r\nNgoài ra tổ chức công đoàn có 126 đơn vị\r\n sự nghiệp công đoàn gồm 10 đơn vị trực thuộc Tổng LĐLĐVN; 113 đơn vị sự\r\n nghiệp trực thuộc các LĐLĐ tỉnh, thành phố và 3 đơn vị trực thuộc công \r\nđoàn ngành Trung ương và tương đương.
\r\nToàn hệ thống công đoàn có 14.957 CBCCVC và người lao động; thu nhập bình quân 6.822.204 đồng/người/tháng.
\r\nTại buổi làm việc, các ý kiến bày tỏ \r\nthống nhất một số nội dung như: Khi xác định vị trí việc làm thì duy trì\r\n rất ít phụ cấp (chỉ còn phụ cấp khu vực, ngành nghề); tăng quyền quản \r\nlý tiền lương cho người sử dụng lao động kể cả trong khối công chức, \r\nviên chức; tiền lương tối thiểu phụ thuộc nhiều yếu tố không chỉ có mức \r\nsống tối thiểu nhưng phải hướng tới đáp ứng mức sống tối thiểu và đặt ra\r\n vấn đề có nên quy định tiền lương tối thiểu chung cho các khu vực \r\nkhông.
\r\nĐối với Tổng LĐLĐVN phải chú ý tới đặc \r\nthù ngành để không quản lý biên chế cào bằng, phải bảo đảm thu để chi \r\ncho lương. Xác định nguồn trả lương phải gắn với cải cách bộ máy và tinh\r\n giản biên chế, phát triển kinh tế để thu và từ các khoản tiết kiệm. Về \r\nchi trả BHXH thì tuân thủ nguyên tắc bao phủ, chia sẻ rủi ro và tổ chức \r\nthực hiện chính sách này không chi trả quá nhiều và cũng không quá \r\n“cứng”.
\r\nSau đợt khảo sát ở Tổng LĐLĐVN, Ban Chỉ đạo sẽ khảo sát tại các cơ quan khác như TAND Tối cao, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam,…