NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XII
về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
I - TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
\r\n1. Tình hình
\r\nSau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII về Chiến \r\nlược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về \r\nnhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu\r\n của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cơ cấu độ \r\ntuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, \r\nhợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển\r\n tiếp giữa các thế hệ.
\r\nNhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị\r\n vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức \r\nkỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, \r\nphấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng \r\ntạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi \r\ntrường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc \r\nvà các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy \r\ntín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa \r\nMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và\r\n chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, \r\nchính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh \r\nđạo lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung \r\nthành với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. \r\nNhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có đóng góp tích cực\r\n cho đất nước. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước \r\nthích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có \r\nhiệu quả.
\r\nCông tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày \r\ncàng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành \r\nnhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, \r\nquy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng \r\nchặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công \r\ntác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng \r\nbước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân\r\n chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa \r\nphương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ \r\nchính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ \r\nluật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, \r\ncá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn \r\ntiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của \r\ncán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
\r\nTuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình \r\ntrạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa \r\ncác cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ \r\nngười dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh \r\nđạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh \r\nvực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu \r\nkém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính \r\nchuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại\r\n ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế \r\ncòn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. \r\nMột bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm \r\nviệc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo \r\nđức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán \r\nbộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương \r\nmẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan \r\nliêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu \r\ncực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu \r\ntu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính\r\n sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản \r\ncủa Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý \r\ntheo pháp luật. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy \r\nhoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh \r\nhiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, \r\nđẩy lùi.
\r\nCông tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội\r\n dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng\r\n thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp \r\ncòn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu \r\ntính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn \r\ndàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm "động" và "mở". Công tác \r\nđào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý \r\nluận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân \r\nchuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là \r\nngười địa phương, trong đó có bí thư cấp uỷ các cấp còn bất cập, chưa \r\nđạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán \r\nbộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng \r\nviệc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong \r\nđó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi,\r\n gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch \r\ncông chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng \r\nđều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài \r\nchậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu \r\nhút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách \r\ncán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng \r\nbộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng \r\nchưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.
\r\nPhân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở\r\n cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức \r\nthực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa kịp thời đánh giá, rút kinh \r\nnghiệm. Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn \r\nnặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa,\r\n ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa \r\ntheo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định. Đầu tư xây dựng đội \r\nngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; \r\ntổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ \r\nchưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ \r\nlàm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.
\r\nSự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ 20 năm qua\r\n là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý \r\nnghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, \r\nnhững khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn\r\n chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân chủ yếu làm \r\ncho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong \r\nmuốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và \r\nNhà nước.
\r\n2. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
\r\n- Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, \r\nlãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, \r\nvề cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. \r\nCông tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.
\r\n- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu \r\ntrong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây \r\ndựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc;\r\n chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử\r\n lý nghiêm.
\r\n- Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có \r\ntiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ \r\ncán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, \r\nchưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, \r\ncó lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những \r\nngười yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ.
\r\n- Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm,\r\n với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm \r\nsoát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn \r\nchặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong \r\ncông tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh\r\n tra, giám sát và xử lý vi phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa \r\nđược đầu tư, quan tâm đúng mức.
\r\n- Chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát,\r\n phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; \r\nthiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân;\r\n chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền \r\nthông, báo chí.
\r\n- Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ \r\ncòn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội \r\nngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ \r\nchưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết \r\nthực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ\r\n và công tác cán bộ.
\r\nII- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU
\r\nTrong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn \r\nbiến phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn \r\nlà xu thế chủ đạo; các mối đe doạ truyền thống, phi truyền thống và biến\r\n đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự \r\nphát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế \r\nhoá nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. Ở \r\ntrong nước, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều\r\n sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được \r\nnâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên,\r\n sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó \r\nkhăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có \r\nmặt gay gắt hơn; tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội \r\nvẫn tiềm ẩn những nhân tố dễ gây mất ổn định. Sự chống phá của các thế \r\nlực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong\r\n điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ \r\ncủa hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng,... Thời \r\ngian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn\r\n lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào \r\ntạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh \r\nra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn,\r\n nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau.
\r\nTình hình đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.
\r\n\r\n- Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác \r\ncán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính \r\ntrị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ \r\nquan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành\r\n thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây \r\ndựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.
\r\n- Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo \r\ntrực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ \r\nthống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây \r\ndựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy \r\nsáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích \r\nchung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, \r\nđồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý \r\nnghiêm minh sai phạm.
\r\n- Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi \r\nmới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ \r\ncán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua \r\nhoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng\r\n thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức \r\nlãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh \r\ngọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,\r\n nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.
\r\n- Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường \r\nlối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong\r\n công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và \r\ncơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là\r\n nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, \r\nthường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến \r\nvà đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm \r\nquyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.
\r\n- Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, \r\ntrực tiếp là của các cấp uỷ, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu\r\n và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng \r\ncốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ \r\nchức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác \r\ncán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu \r\nthịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây \r\ndựng đội ngũ cán bộ.
\r\n\r\n2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng \r\nđội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy\r\n tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù \r\nhợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo \r\nđảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo \r\nđưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030,\r\n tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định \r\nhướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công \r\nbằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
\r\n2.2. Mục tiêu cụ thể:
\r\n- Đến năm 2020: (1) Thể chế hoá, \r\ncụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp \r\nluật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán \r\nbộ; (2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy\r\n chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn \r\nbiến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên; (3) Đẩy mạnh thực hiện \r\nchủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa \r\nphương; (4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu \r\nlại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, \r\nhoạt động hiệu lực, hiệu quả.
\r\n- Đến năm 2025: (1)\r\n Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy \r\ntrình về công tác cán bộ; (2) Cơ bản bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh không\r\n là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích \r\nthực hiện đối với các chức danh khác; (3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ \r\ncác cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực \r\ntheo quy định.
\r\n- Đến năm 2030: (1) Xây dựng được đội ngũ \r\ncán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp\r\n lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:
\r\n+ Đối với cán bộ cấp chiến lược: Thực sự tiêu biểu về chính \r\ntrị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ \r\n40 - 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế (đối với quân \r\nđội, công an có quy định riêng của Bộ Chính trị).
\r\n+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 - 25% dưới 40 tuổi; từ 50 - 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
\r\n+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: Từ 15 - 20%\r\n cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh dưới 40 tuổi, từ 25 - 35% đủ khả năng\r\n làm việc trong môi trường quốc tế; từ 20 - 25% cán bộ lãnh đạo chủ chốt\r\n và uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện dưới 40 tuổi. Đối với cán bộ \r\nchuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn \r\nhoá về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác.
\r\n+ Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội, công an: Tuyệt \r\nđối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy \r\nsinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có ý thức\r\n tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; có số lượng và cơ cấu hợp \r\nlý, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, \r\ntinh nhuệ, từng bước hiện đại; từ 20 - 30% đủ khả năng làm việc trong \r\nmôi trường quốc tế.
\r\n+ Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia: Đáp ứng yêu \r\ncầu phát triển của đất nước. Hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, \r\ncác nhà khoa học ở những lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đạt trình độ \r\nngang tầm khu vực và thế giới. Số cán bộ khoa học đạt ít nhất 11 người \r\ntrên 1 vạn dân.
\r\n+ Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước: Nâng cao tính Đảng và ý thức tuân thủ pháp luật; sản xuất kinh doanh hiệu quả; từ 70 - 80% có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
\r\n+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp uỷ và tổ chức đảng\r\n các cấp. Tỉ lệ nữ cấp uỷ viên các cấp đạt từ 20 - 25%; tỉ lệ nữ đại \r\nbiểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn \r\ncó đồng bào dân tộc thiểu số, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc \r\nthiểu số phù hợp với cơ cấu dân cư.
\r\nIII- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
\r\n1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
\r\n- Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực\r\n hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp \r\nluật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán\r\n bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ. Kiên quyết đấu tranh với những \r\nquan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên \r\ntruyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, \r\nhiệu quả.
\r\n-\r\n Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách\r\n mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng \r\nnội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân\r\n tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực \r\ntiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí \r\nMinh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị \r\nvà cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở \r\nnước ngoài.
\r\n2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ
\r\n- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt,\r\n triển khai đồng bộ; thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực\r\n hiện; ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả những tiêu cực, tham nhũng trong\r\n công tác cán bộ.
\r\n-\r\n Thể chế hoá, cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác \r\ncán bộ theo hướng: Đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính \r\ntrị và phù hợp với thực tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc \r\ntrách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ \r\ncương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; bảo vệ \r\ncán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích \r\nchung.
\r\n- Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, \r\nđa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công \r\nkhai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân \r\nvới tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn \r\nvị.
\r\n- Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ:
\r\n+ Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa \r\nphương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; \r\nđồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo \r\nvùng, khu vực.
\r\n+ Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và học tập ngoại ngữ.
\r\n+ Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và \r\nđẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống \r\nchính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.
\r\n+ Thực hiện việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là \r\nngười địa phương theo mục tiêu đề ra; khuyến khích thực hiện đối với các\r\n chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch Uỷ ban nhân dân, nếu có điều\r\n kiện.
\r\n+ Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, \r\ntrọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh \r\nvực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược\r\n quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng không phân biệt \r\nđảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước \r\nngoài.
\r\n- Đổi mới công tác ứng cử, bầu cử, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ:
\r\n+ Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp uỷ các cấp có cơ cấu hợp \r\nlý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa \r\nphương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp uỷ viên.
\r\n+ Tiếp tục thực hiện chủ trương bầu trực tiếp bí thư tại đại hội đảng\r\n bộ các cấp ở những nơi có điều kiện; thực hiện nghiêm việc lựa chọn, \r\nbầu cử có số dư; ứng viên trước khi bổ nhiệm phải trình bày chương trình\r\n hành động và cam kết trách nhiệm thực hiện.
\r\n+ Nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải kinh qua vị trí \r\nchủ chốt cấp dưới; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, \r\nquyết định. Nhân sự không trúng cử cấp uỷ cấp dưới thì không giới thiệu \r\nđể bầu cấp uỷ cấp trên.
\r\n+ Cấp uỷ các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi \r\ndưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ,\r\n cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Xây dựng chỉ tiêu cơ cấu \r\nphù hợp, nếu chưa bảo đảm chỉ tiêu cơ cấu thì phải để trống, bổ sung \r\nsau; gắn việc thực hiện chỉ tiêu với trách nhiệm của cấp uỷ và người \r\nđứng đầu.
\r\n+ Quy định trách nhiệm của lãnh đạo và cấp uỷ viên các cấp trong việc\r\n tiến cử người có đức, có tài; người đứng đầu có trách nhiệm đào tạo, \r\nbồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình.
\r\n+ Có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ \r\ncó bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh \r\nđạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ.
\r\n+ Xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở \r\nthành nếp văn hoá ứng xử của cán bộ; hoàn thiện các quy định về cách \r\nchức, bãi nhiệm, miễn nhiệm để việc "có lên, có xuống", "có vào, có ra" trở thành bình thường trong công tác cán bộ.
\r\n-\r\n Thực hiện lộ trình cải cách tiền lương phù hợp với từng nhóm đối tượng \r\ntheo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, năng suất lao động, hiệu quả \r\ncông tác và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực của đất \r\nnước. Xây dựng chính sách nhà ở theo hướng: Nhà nước thống nhất ban hành\r\n cơ chế, chính sách; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở; cán bộ, công \r\nchức, viên chức mua và thuê mua. Thực hiện nghiêm, đúng đắn, chính xác \r\nchế độ thi đua, khen thưởng.
\r\n- Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu \r\ntrong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý nghiêm những người có sai\r\n phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.
\r\n- Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ: Nắm chắc lịch sử chính\r\n trị và tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Hoàn thiện quy định để \r\nxử lý, sử dụng những trường hợp có vấn đề về chính trị. Không xem xét \r\nquy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu \r\nchuẩn chính trị.
\r\n- Tiếp tục nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chủ trương:
\r\n+ Mở rộng việc thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng.
\r\n+ Người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực \r\nhiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp uỷ giới \r\nthiệu để bầu uỷ viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm\r\n nguyên tắc tập trung dân chủ và phải chịu trách nhiệm về việc giới \r\nthiệu của mình.
\r\n+ Giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn\r\n nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về \r\nquyết định của mình.
\r\n3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới
\r\n- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao \r\ntrách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi \r\ntrường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ. Coi trọng \r\ntrang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung \r\nnâng cao chất lượng bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán\r\n bộ cấp cơ sở.
\r\n- Hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên \r\ntốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng và đặc biệt quan \r\ntâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận. Chủ động nắm, tuyển\r\n chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại \r\ngiỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài.
\r\n- Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí \r\nviệc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, \r\nnâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu.
\r\n- Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú \r\ntrọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ\r\n nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ \r\ncương, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất \r\nlượng đội ngũ cán bộ khoa học; có chính sách ưu đãi để xây dựng, sử dụng\r\n đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực. \r\nCủng cố, nâng cao ý thức trách nhiệm và tính Đảng đối với cán bộ trong \r\ncác doanh nghiệp nhà nước, nhất là người đứng đầu; xây dựng quy định về \r\ntuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ quản trị doanh nghiệp phù hợp với \r\ncơ chế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
\r\n- Nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng, nhất\r\n quán trong hệ thống chính trị; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã\r\n với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và \r\nkhu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng \r\nđội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ "biên chế \r\nsuốt đời".
\r\n- Quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ các cấp theo hướng: Xây \r\ndựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ. Địa phương, cơ quan, đơn\r\n vị phải thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có \r\nthẩm quyền. Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu \r\nquả. Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân \r\ncấp. Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của\r\n mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu \r\ncầu.
\r\n- Hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ\r\n càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, \r\nkhông đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ \r\nnhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, \r\nphong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán \r\nbộ.
\r\n- Quân đội, Công an có đề án riêng để xây dựng lực lượng vũ trang \r\ncách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung \r\nthành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình\r\n mới.
\r\n4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ
\r\nXây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược bảo đảm các tiêu chuẩn quy định và đáp ứng yêu cầu, theo hướng:
\r\n- Phát hiện, lựa chọn từ nguồn quy hoạch những cán bộ tiêu biểu, xuất\r\n sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo chức danh, nhất là những\r\n người đã được thử thách qua thực tiễn, có thành tích nổi trội, có "sản \r\nphẩm" cụ thể, có triển vọng phát triển.
\r\n- Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt; bồi dưỡng toàn diện \r\nvề kỹ năng; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng.
\r\n- Xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp \r\ntrưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực \r\ntrọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao \r\nbản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn \r\ndiện của cán bộ.
\r\n- Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cho các chức danh cấp chiến lược.
\r\n- Đánh giá chính xác nhân sự được quy hoạch, giới thiệu bầu cử, bổ \r\nnhiệm vào các chức danh cấp chiến lược. Kiên quyết không để lọt những \r\nngười không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền vào đội ngũ cán\r\n bộ cấp chiến lược.
\r\n- Định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung \r\nương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của \r\nĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cho các nhiệm kỳ.
\r\n- Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao \r\nchất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, thực sự tiêu biểu về đạo đức \r\ncách mạng, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, trong sáng, gương mẫu về mọi \r\nmặt. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng "hình ảnh" các chức danh lãnh \r\nđạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban \r\nBí thư.
\r\n- Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, \r\nrèn luyện, thử thách đối với Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng theo \r\nhướng chỉ lựa chọn cán bộ trẻ, thật sự ưu tú và có cơ cấu hợp lý giữa \r\nTrung ương với địa phương, giữa các ngành nghề, lĩnh vực trong hệ thống \r\nchính trị.
\r\n5. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền
\r\n- Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác \r\ncán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ \r\nbằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm.
\r\n- Thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ\r\n sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. \r\nXác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ \r\nchức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng.
\r\n- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; \r\ntheo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới \r\ngiám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.
\r\n- Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật \r\ncủa Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những \r\nhành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy\r\n quyền. Huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, \r\nđồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có "vùng \r\ncấm".
\r\n- Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng \r\nnhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các \r\ntổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia\r\n xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong \r\ncông tác cán bộ.
\r\n- Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. \r\nXác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu \r\ntrong công tác cán bộ.
\r\n- Nhận thức sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của tệ chạy chức, chạy \r\nquyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Nhận diện \r\nrõ, đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành \r\nvi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng \r\ncao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình \r\nthành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.
\r\n6. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ
\r\n- Thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực\r\n hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác \r\ngiám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức \r\nchính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.
\r\n- Thường trực cấp uỷ các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, \r\nphó bí thư, uỷ viên ban thường vụ và cấp uỷ viên dự sinh hoạt với chi bộ\r\n khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng \r\ntại chi bộ khu dân cư. Thực hiện việc phân công cán bộ, đảng viên phụ \r\ntrách hộ gia đình nơi cư trú với các hình thức phù hợp để gắn bó mật \r\nthiết với nhân dân; truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính \r\nsách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và lắng nghe tâm tư, \r\nnguyện vọng của nhân dân; nắm chắc tình hình cơ sở; đồng thời, qua đó để\r\n nhân dân thực hiện việc giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức,\r\n lối sống.
\r\n- Cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân \r\nlàm, dân giám sát trong công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán\r\n bộ.
\r\n- Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng \r\ncủa người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ \r\nthống chính trị một cách phù hợp.
\r\n- Hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và xử lý những ý kiến phản ảnh, kiến \r\nnghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, nhất là của người có uy tín trong \r\ncộng đồng dân cư gửi đến cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu địa \r\nphương, cơ quan, đơn vị và qua các phương tiện thông tin đại chúng với \r\ncác hình thức phù hợp, hiệu quả.