Theo\r\n đó, Việt Nam đặt mục tiêu điều chỉnh giảm dần lượng gạo hàng\r\n hóa xuất khẩu nhưng giữ ổn định và tăng trị giá xuất khẩu \r\ngạo. Cụ thể: Trong giai đoạn 2017-2020, lượng gạo xuất khẩu \r\nhàng năm khoảng 4,5-5 triệu tấn vào năm 2020, trị giá đạt \r\nbình quân khoảng từ 2,2-2,3 tỷ USD/năm. Trong giai đoạn 2021-2030, lượng gạo xuất khẩu hàng năm khoảng 4 triệu tấn vào năm \r\n2030, trị giá xuất khẩu gạo tiếp tục được duy trì ổn định và\r\n tăng đạt khoảng 2,3-2,5 tỷ USD/năm.
Về\r\n cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, đến năm 2030, tỷ trọng gạo trắng \r\nthường chỉ chiếm khoảng 25%, trong đó gạo phẩm cấp thấp và \r\ncấp trung bình không vượt quá 10% tổng lượng gạo xuất khẩu; \r\ngạo thơm, gạo đặc sản, gạo japonica chiếm khoảng 40%, gạo nếp \r\nchiếm khoảng 25%; tăng dần tỷ trọng các sản phẩm gạo có giá \r\ntrị gia tăng cao.
Về\r\n cơ cấu thị trường, châu Á vẫn là thị trường quan trọng nhất, \r\nngoài ra tập trung phát triển thêm các thị trường khác như châu \r\nMỹ, châu Âu... Đến năm 2030, thị trường châu Á chiếm tỷ trọng \r\nkhoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo, thị trường châu Phi \r\nchiếm khoảng 25%, thị trường Trung Đông chiếm khoảng 5%, thị \r\ntrường châu Âu chiếm khoảng 6%, thị trường châu Mỹ chiếm khoảng \r\n10%, thị trường châu Đại Dương chiếm khoảng 4%./.